Flavital 500

242
flavital 500
Flavital 500

Nhóm sản phẩm: Thuốc có nguồn gốc Thảo dược, Động vật Dạng bào chế:Viên nang cứng Đóng gói:Hộp 5 vỉ x 10 viên

Thành phần:

Cao khô hỗn hợp các dược liệu (tương ứng Thỏ ty tử 25 mg; Hà thủ ô đỏ 25 mg; Dây đau xương 25 mg; Đỗ trọng 25 mg; Cúc bất tử 50 mg; Cốt toái bổ 25 mg; Nấm sò khô 500 mg): 550 mg; SĐK:VD-24184-16

Chỉ định:

Các trường hợp huyết áp cao, huyết áp thấp, hàng lượng Cholesterol máu cao. Các triệu chứng suy giảm trí nhớ, đau đầu, mất ngủ. Khắc phục hội chứng tiền đình và phục hồi các tổn thương stress. Các biểu hiện của bệnh nhũn não ở người già: run rẩy, mất thăng bằng, hoa mắt… tiện đêm, đau mỏi lưng, giảm hoạt động sinh lý… Tăng cường thể lực và hoạt động trí tuệ, chống thoái hoá chức năng.

Liều lượng – Cách dùng

Liều dùng và cách sử dụng nên tham khảo ý kiến của bác sĩ, tránh việc tự ý dùng thuốc hoặc lạm dụng thuốc mà gây ra những hậu quả không lường trước   Người lớn ngày uống 2 – 4 viên chia làm 2 lần, uống thuốc lúc đói. Thời gian 30 – 60 ngày được chỉ định cho một đợt điều trị.   Thức ăn làm giảm khả năng hấp thụ thuốc do vậy nên sử dụng thuốc lúc đói để tăng khả năng hấp thụ thuốc.   Nên sử dụng Flavital nhắc lại định kỳ để củng cố tác dụng và tăng cường thể lực.

Chống chỉ định:

Mẫn cảm với một trong các thành phần của thuốc.

Phụ nữ mang thai và cho con bú

Tác dụng phụ:

Buồn nôn, tiêu chảy

Dị ứng, phát ban

Khi có những dấu hiệu của tác dụng phụ nên đến ngay bệnh viện để chữa trị kịp thời, tránh để lâu gây ra hậu quả nghiêm trọng.

Thông tin thành phần Hà thủ ô đỏ

Mô tả:Hà thủ ô là cây dây leo, sống nhiều năm. Thân rễ phồng thành củ. Thân quấn, mọc xoắn vào nhau, mặt ngoài thân có màu xanh tía, nhẵn, có vân. Lá mọc so le, có cuống dài. Phiến lá hình tim, đầu nhọn, mép nguyên hoặc hơi lượn sóng, cả hạị mặt đều nhẵn. Bẹ chìa mỏng, màu nâu nhạt, ôm lấy thân. Hoa tự chùm nhiều nhánh. Hoa nhỏ, đường kính 2mm, mọc cách xa nhau ở kẽ những lá bắc ngắn, mỏng. Bao hoa màu trắng, 8 nhụy (trong số đó có 3 nhụy hơi dài hơn). Bầu hoa có 3 cạnh, 3 vòi ngắn rời nhau. Đầu nhụy hình mào gà rủ xuống. Quả 3 góc, nhẵn bóng, đựng trong bao hoa còn lại, 3 bộ phận ngoài của bao hoa phát triển thành cánh rộng, mỏng, nguyên.     Phân bố:

Cây mọc hoang ở hầu hết các tỉnh miền núi từ Nghệ An trở ra, có nhiều ở Lai Châu, Sơn La, Lào Cai, Hà Giang, một số tỉnh khác như Cao Bằng, Lạng Sơn, Hoà Bình có số lượng ít hơn. Hiện nay, Hà thủ ô được trồng ở nhiều nơi vùng ở phía Bắc (Vĩnh Phú) và cả ở phía Nam, cây mọc tốt ở Lâm Đồng, Đắc Lắc, Phú Yên, Bình Định.   Bộ phận dùng: Rễ củ Hà thủ ô phơi hay sấy khô của cây Hà thủ ô đỏ.   Thu hái, sơ chế: Thu hoạch vào mùa thu, khi lá khô úa, đào lấy củ cắt bỏ hai đầu, rửa sạch, củ to cắt thành miếng, phơi hay sấy khô. Nếu đồ chín rồi phơi thì tốt hơn.   Bào chế:   Chế Hà thủ ô : Rửa sạch củ, ngâm nước vo gạo một ngày 1 đêm, sau đó rửa lại. Đổ nước đậu đen cho ngập (cứ một kg Hà thủ ô cần 100 g đậu đen, 2 lít nước, nấu đến khi đậu đen nhừ nát), nấu đến khi gần cạn, cần đảo luôn cho chín đều. Khi củ đã mềm, lấy ra, bỏ lõi (nếu có). Thái hoặc cạo mỏng rồi phơi khô. Nếu còn nước đậu đen thì tẩm phơi cho hết .Nếu đồ, phơi 9 lần (cửu chưng cửu sái) thì càng tốt. Khi đun nên đặt vỉ ở đáy nồi cho khỏi cháy dược liệu.   Mô tả Dược liệu: Cùng tên hà thủ ô, ở Việt Nam có 2 loại: hà thủ ô đỏ và hà thủ ô trắng. Loại hay được dùng làm thuốc chính là hà thủ ô đỏ.   Vị thuốc Hà thủ ô là rễ để nguyên hay cắt thành từng miếng lớn nhỏ không đều nhau. Loại nguyên hơi giống củ khoai lang lớn, mặt ngoài màu nâu đỏ có nhiều chỗ lồi lõm. Mặt cắt ngang để lộ lớp bần màu nâu đỏ, mô mềm. Vỏ màu nâu hồng có nhiều bột, giữa có gỗ hẹp. Chất cứng, hơi nặng, không mùi, vị hơi chát.   Tính vị: Vị ngọt, hơi đắng, cố sáp, tính hơi ấm.   Quy kinh: Vào kinh can, thận.   Thành phần hóa học: Chrysophanic acid, emodin, rhein, chrysophanic acid, anthrone, lecithin. Tác dụng : Bổ huyết giữ tinh, hoà khí huyết, bổ can thận, mạnh gân xương, nhuận tràng. Chỉ định : – Bổ máu, chống viêm.   – Chữa thận suy, yếu gan, thần kinh suy nhược, ăn ngủ kém.   – Sốt rét mạn tính, thiếu máu, ít sữa.   – Các bệnh của phụ nữ sau khi đẻ, xích bạch đới.   – Đau lưng, thấp khớp, di tinh, khí hư, đại tiện ra máu.   – Đái buốt, đái dắt, đái ra máu (lao lâm).   – Mẩn ngứa, bệnh ngoài da.   – Uống lâu ngày chữa người già xơ cứng mạch máu não, huyết áp cao hoặc nam giới tinh yếu khó có con.   – Chữa huyết hư máu nóng, tóc khô hay rụng, sớm bạc, hồi hộp chóng mặt, ù tai hoa mắt, lưng gối rũ mỏi, khô khát táo bón.   – Điều kinh bổ huyết. Liều lượng – cách dùng: 12-20g một ngày, dạng thuốc sắc, thuốc bột, rượu bổ.  Trước khi dùng phải chế biến, phụ liệu chính là đậu đen.       Bài thuốc có Hà thủ ô:   + Chữa huyết hư máu nóng, tóc khô hay rụng, sớm bạc, và hồi hộp chóng mặt, ù tai, hoa mắt, lưng gối rũ mỏi, khô khát táo bón, dùng Hà thủ ô chế, Sinh địa, Huyền sâm, mỗi vị 20g sắc uống.   + Chữa người già xơ cứng mạch máu, huyết áp cao hoặc nam giới tinh yếu khó có con, dùng Hà thủ ô 20g, Tầm gửi Dâu, Kỷ tử, Ngưu tất đều 16g sắc uống.   + Bổ khí huyết, mạnh gân cốt, Hà thủ ô trắng và Hà thủ ô đỏ với lượng bằng nhau, ngâm nước vo gạo 3 đêm, sao khô tán nhỏ, luyện với mật làm viên to bằng hạt đậu xanh. Uống mỗi ngày 50 viên với rượu vào lúc đói.   + Chữa đái dắt buốt, đái ra máu (Bệnh lao lâm), dùng lá Hà thủ ô, lá Huyết dụ bằng nhau sắc rồi hoà thêm mật vào uống.   + Điều kinh bổ huyết: Hà thủ ô (rễ, lá) 1 rổ lớn, Đậu đen 1/2kg. Hai thứ giã nát, đổ ngập nước, nấu nhừ, lấy vải mỏng lọc nước cốt, nấu thành cao, thêm 1/2 lít mật ong, nấu lại thành cao, để trong thố đậy kín, mỗi lần dùng 1 muỗng canh, dùng được lâu mới công hiệu.

Thông tin thành phần Đỗ trọng

Mô tả:

Đỗ trọng là thân cây gỗ sống lâu năm. Vỏ thân và lá có nhựa mủ trắng, vỏ màu xám, khi bẻ đôi sẽ thấy những sợi nhựa trắng mảnh như tơ nối giữa các mảnh vỏ. Lá mọc so le, hình trứng rộng, dài 6-8cm, rộng 3-7,5cm, màu lục bóng, mép khía răng. Lá cũng có gôm tựa gutta percha như ở vỏ. Hoa đơn tính khác gốc; hoa đực và hoa cái không có bao hoa; hoa đực mọc thành chùm; hoa cái tụ tập 5-10 cái ở nách lá. Quả hình thoi dẹt, màu nâu. Hoa tháng 3-5; quả tháng 7-9.  

Phân bố: Đỗ trọng đã di thực vào trồng ở Việt Nam, nhưng chưa phát triển mạnh. Trung Quốc có trồng nhiều loại cây này.   Thu hái, sơ chế:   Sau khi cây trồng được 10 năm thì chọn những cây to mập để thu hoạch trước. Thu hoạch vào mùa hạ.Cưa đứt chung quanh vỏ cây thành những đoạn dài ngắn tùy ý, rồi dùng dao rạch dọc thân cây thành từng miếng để bóc vỏ cho dễ. Để cho cây không bị chết mà vẫn giữ nguyên tình trạng của rừng cây, khi bóc vỏ chỉ bóc 1/3 vỏ ở chung quanh cây, đề giữ cho cây tiếp tục sinh trưởng sau mấy năm vỏ ở chỗ bóc đó đã liền lại như cũ, lúc đó lại có thể tiếp tục bóc.

Vỏ bóc về đem luộc nước sôi rồi trải ở chỗ bằng phẳng, dưới có lót rơm, bên trên nén chặt làm cho vỏ phẳng, chung quanh lấy rơm phủ kín để ủ cho nhựa chảy ra. Sau một tuần, nếu thấy vỏ có màu tím thì có thể dỡ ra đem phơi, cạo thật sạch lớp vỏ bên ngoài, làm cho vỏ thật nhẵn bóng, cuối cùng cắt thành từng miếng.  

Mô tả Dược liệu:   Vị thuốc Đỗ trọng là vỏ thân cây, là vỏ dày,ít sù sì, từng tấm phẳng hoặc hai bên mép hơi cong vào, to nhỏ không đều, dày 0,2 – 0,5 cm. Mặt ngoài màu nâu nhạt hoặc màu hạt dẻ, có nhiều nếp nhăn dọc và vết tích của cành con. Loại vỏ mỏng (bóc ở cây ít năm) không cạo bỏ bớt vỏ thô bên ngoài có thể thấy rõ bì khổng. Mặt trong vỏ màu tím sẫm, trơn, chất giòn, dễ bẻ gẫy, mặt bẻ có nhiều sợi màu trắng bạc, có tính đàn hồi như cao su. Vị hơi đắng.   Tính vị: Vị ngọt, hơi cay, tính ôn   Quy kinh: Vào kinh can, thận   Thành phần hóa học:   Vỏ cây chứa gutta-pereha, còn có pino-resinol-diglucosid, geniposid, acid geniposidic, ulmoprenol, acid chlorogenic, aucubin, loganin, chất màu, albumin chất béo, tinh dầu và muối vô cơ.

Tác dụng : Hạ áp, hạ cholesterol, giãn mạch, kháng viêm, chống co giật, giảm đau, cầm máu, lợi tiểu. Ôn thận, tráng dương, mạnh gân cốt, an thai, nhuận can táo, bổ can hư.

Chỉ định : – Trị thận hư, hai bên thăn lưng đau, liệt dương, rong kinh, đầu đau, chóng mặt do thận hư.   – Dưỡng thai, dùng trong trường hợp thai động, trụy thai.   Liều lượng – cách dùng: Liều dùng: 10 – 15g dạng thuốc sắc, ngâm rượu hay cao lỏng. Chống chỉ định : – Kỵ Huyền sâm, Xà thoái

– Không phải can thận hư hoặc âm hư hỏa vượng không nên dùng. Lưu ý: Dùng thuốc theo chỉ định của Bác sĩ